Y Đức Hai Họ
Mộng Bào
cảm xúc thơ
Nguyễn Đình Chiểu bài 61
Trẻ ấu thơ
mặn mòi cá nước
Đức hiếu
sinh thao thức lòng trời
Tổ sư bào
chế cứu đời
Bệnh nào
thuốc ấy rạch ròi xưa nay
Lợi thế tục
nhiều thày chẳng ngại
Lang băm càng
tác hại tiểu sinh
Kỳ Hoàng đạo
học chứng minh
Khen thay trị
bệnh thấu hình thực hư
Đơn thuốc
hay chân như cứu độ
Danh tiếng
thơm sư tổ ghi công
Học trò rõ
chước biến thông
Huyền vi y
thuật mênh mông tấm lòng
Kiếp nhân
sinh long đong trời đất
Thuốc nhi
đồng sài giật nóng ban
Tử kim đĩnh,
khỏi luận bàn
Quánh đờm
ho nặng gian nan vô cùng
Bệnh sởi
đậu phải dùng trợ vị
Lở lưỡi
môi từng tí nhẹ nhàng
Kê đơn hóa
độc đúng thang
Bảo long tinh
tán thung thăng đáng tiền
Thiên châm
hoàn, giảm liền nôn mửa
Sốt hãm luôn
cứu chữa tới nơi
Nên dùng lô
hội kịp thời
Chứng cam nên
nhớ rạch ròi trước sau
Thuốc đã có
phải mau ứng dụng
Ngư với Tiều
tìm đúng phương hay
Hai chàng gặp
bạn là may
Nhập Môn ưu
ái tháng ngày chỉ cho
Đệ tử ruột
tài cao uyên bác
Kỳ Nhân Sư
tọa lạc nơi nao?
Ngư Tiều cảm
khái dạt dào
Mong thày trở
laị nghẹn ngào lệ sa
Khắp thiên
hạ trăm nhà ngưỡng mộ
Bạn của
thày tri cố hai ông
Họ tên là
Hưởng Thanh Phong
Ảnh Minh
Nguyệt lão tinh thông y truyền
Chẳng vướng
bụi thiên nhiên tạo hóa
Bậc chân
nhân tỏa đóa hoa mai
Thanh tâm khí
tượng anh tài
Mỗi người
một vẻ gót hài thần tiên
Thày ta vẫn
thường xuyên thăm viếng
Với bạn
hiền nức tiếng gần xa
Sẵn lòng
Sào, Hứa ngâm nga
Tề, Di mát
mặt trăng ngà bể dâu
Ba mươi sáu
cung bầu hạc lỷ
Hưởng Thanh
Phong tri kỷ mấy ai
Kỳ Nhân Sư
một thiên tài
Ảnh Minh
Nguyệt cũng hương lài thoảng bay
Vòng hối
thực men say thoát khỏi
Đời tối
bưng le lói bình minh
Ngẩn ngơ
nhìn lại bóng mình
Mây lồng đáy
nước lung linh góc trời
*Nguyên tác
thơ lục bát: Ngư Tiều Y Thuật Vấn Đáp
5.5.2020 Lu Hà
Y Đức Hai Họ
Mộng Bào
cảm xúc thơ
Nguyễn Đình Chiểu bài 62
Hai mươi tám
sao chơi bốn biển
Chán hư danh
hiện diện dáng hình
Gương thềm
ngọc thỏ lung linh
Vầng trăng
sáng tỏ cung nghinh tiếng đàn
Nhập Môn
đang chứa chan thơ đọc
Bỗng khách
đâu mời mọc thỉnh cầu
Chúa Liêu
triệu đến sân chầu
Tôn sư rầu
rĩ mái đầu tuyết sương
Chức thái sư
Liêu vương ép buộc
Bổng lộc
nhiều bốc thuốc kê đơn
Tôn sư căm
giận oán hờn
Dật dờ sớm
tối chập chờn bóng mây
Lòng bi phẫn
bấy chầy thân phận
Kỳ Nhân Sư
tủi hận chẳng ra
Dân tình
thống khổ kêu la
Cửa nhà tan
nát sơn hà giá băng
Thày cáo bệnh
chẳng màng chức tước
Sợ triều
đình ngờ vực sinh nghi
Nhập Môn
chẳng rõ bệnh gì?
Vội vàng
chuẩn bị ra đi thăm người
Ngư Tiều
cũng tức thời biện lễ
Huynh đệ
càng tri kỷ tương thân
Đan Kỳ theo
lối đi gần
Gió nồm nam
thổi đằng vân ráng chiều
Trời miền
tây tiêu điều cảnh vật
Làn hơi sương
phảng phất hồ sen
Non Kiều cây
mọc cỏ chen
Hang sâu vực
thẳm bao phen tuyết dày
Hươu vào
động hạc bầy về núi
Ba người vừa
cắm cúi bước vào
Thấy ngay Đạo
Dẫn đón chào
Mời vào y
quán nghẹn ngào trước sau
Thày chẳng
chịu tự mù đôi mắt
Chốn thiên
thai đóng chặt cửa thiền
Xông hai mắt
đỏ triền miên
Sứ Liêu cũng
chịu lụy phiền não thân
Cảnh nước
mất nhà tan tang tóc
Dân lầm than
kêu khóc khổ đau
Oán cừu thù
hận theo nhau
Trẻ già trai
gái dãi dầu nắng mưa
Nhập Môn
nghe nhặt thưa lã chã
Giọt thương
người lọ đá nát lòng
Trách thầm
Minh Nguyệt Thanh Phong
Không ngăn
cản được, hai ông phụ thầy
Không cố
khuyên để vầy sao nỡ
Cảnh mù lòa
món nợ y khoa
Tật tàn đôi
mắt ướt nhòa
Di, Tề ẩn
dật muối rau qua ngày
Nơi non Thú
ai hay cam chịu
Chẳng chịu
quỳ bám víu nhà Chu
Quản chi rừng
núi âm u
Mai danh ẩn
tích thiên thu u hoài.
*Nguyên tác
thơ lục bát: Ngư Tiều Y Thuật Vấn Đáp
5.5.2020 Lu Hà
Y Đức Hai Họ
Mộng Bào
cảm xúc thơ
Nguyễn Đình Chiểu bài 63
Đơì chiến
quốc tranh tài vương bá
Danh chẳng
sờn sắt đá kinh luân
Như ông Qủy
Cốc ẩn thân
Học trò tuấn
kiệt non gần đỉnh xa
Núi Thương
Sơn bao la hùng vĩ
Bốn lão phu
an trí tuổi già
Công danh chi
nữa đá bia
Nào ai ràng
buộc bên rìa tử sinh
Thú cày câu
mặc tình lộc Hán
Nghiêm, Châu
cùng lánh nạn công hầu
Tiên sinh Ngũ
Liễu dãi dầu
Gặp cơn Tấn
loạn mái đầu bạc phơ
Đào tể
tướng hững hờ phú quý
Tướng sơn
trung quy lụy phiền ai
Chúa Lương
khuất lễ vật nài
Mới ra giúp
sức trổ tài công huân
Tùy vô đạo
dấn thân dạy học
Họ Vương
kia khó nhọc Phần Hà
Luyện rèn
mưu sĩ tại nhà
Trúc Lâm chén
rượu nhân hà sầu ly
Bọn Lan Đình
nhung y lả lướt
Thơ nhạc say
sướt mướt với ai
Bụi Hồ vẩn
đục chi hoài
Hành tàng hai
chữ nguôi ngoai nỗi lòng
Hãy gỡ bỏ
hết vòng danh lợi
Vật ngoài
thân chới với bạc tiền
Sống cùng
non nước thần tiên
Chính tâm an
tọa sầu miên khước từ
Thuở Yêu Ly
riêng tư khác biệt
Khổ nhục
nào nhất thiết trừ hung
Lo âu tiếng
nhạc mịt mùng
Như ông Sư
Khoáng đường cùng thảm thay
Tự xông khói
mù ngay đôi mắt
Trời nỡ
lòng xiết chặt dây oan
Sao không dốc
sức khuyên can
Để cho Sư
Phụ tật tàn bấy nay?
Đạo Dẫn
than giãi bày mọi lẽ
Nào ngờ đâu
rành rẽ lời hay
Thày rằng:
Trời đất xưa nay
Vần xoay khí
vận đổi thay chính tà
Vũ trụ luận
nhân hà thế tục
Xen hình hơi
thúc giục trôi ra
Hiếu sinh con
tạo thiết tha
Dưới là ngũ
nhạc trên là tam quang
Đường chính
đạo thênh thang ta bước
Còn cách nào
tỉnh thức lê dân
Yêu ma ác quỷ
vô thần
Xâm lăng lấn
chiếm giết dần chúng sinh
Đời ngũ đế
thái bình thịnh trị
Là bởi vì
vận khí thịnh lên
Nhân hòa hợp
với hoàng thiên
Ba giềng năm
dạy tự nhiên an lành
*Nguyên tác
thơ lục bát: Ngư Tiều Y Thuật Vấn Đáp
6.5.2020 Lu Hà
Y Đức Hai Họ
Mộng Bào
cảm xúc thơ
Nguyễn Đình Chiểu bài 64
Khi vận ách
trời xanh u ám
Đầy gian
truân ảm đảm châu đông
Ghe keo lạc
Sở mênh mông
Bảy hùng năm
bá tranh công lấp dòng
Hết nhân
nghĩa đỏ lòng xanh vỏ
Bầy cáo chồn
mọi rợ vô luân
Thánh hiền
nấp bóng dấu thân
Cọp trong
rừng vắng khí phân rối nùi
Chịu cơ cầu
phanh phui đâu dám
Sự đời
càng thê thảm thương đau
Tôi loàn con
giặc tranh nhau
Hơi tà ngăn
bủa bạc màu sơn khê
Hơi chính đâu
dãi dề năm tháng
Chẳng còn
nhiều cay đắng ê chề
Than ôi! Cái
giản nước tề
Ba lần quan
sử nối đề “ thí vua“
Vua nước Tấn
đối đầu trước hết
Làm đồng hồ
ngòi viết biên ra
Chính cây
chùy Bác Lãng Sa
Trương Lương
vì chúa đánh xa Tần Hoàng
Bay phần phật
Tô lang cờ tiết
Nô đọa đày
thảm thiết gian nan
Mất đầu
lão tướng Nghiêm nhan
Trương Phi
uất khí ngút ngàn bể khơi
Chẳng chịu
nhục ngậm cười chín suối
Chính khí
dâng dong duổi đế y
Máu trào Kê
Thiệu cứu nguy
Cảo Khanh
miệng lưỡi lâm ly chúa mình
Thường Sơn
kia cực hình chửi giặc
Miệng Trương
Tuần bạo tặc thất kinh
Tuy Dương
khảng khái bất bình
Mắng bầy
giặc dữ Quản Ninh kém gì
Thời Tam quốc
tru di cửu tộc
Mất ô sa
thảm khốc điêu linh
Chính làm tờ
biểu xuất chinh
Ra quân bắc
phạt Khổng Minh phất cờ
Chèo Tổ Địch
sang bờ dẹp loạn
Diệt Yết Đê
táng tận lăng loàn
Qua sông cái
hốt họ Đoàn
Chặn đầu
quan hoạn mưu gian soán Đường
Hơi chính khí
vấn vương tỏa sáng
Ngọn lửa
hồng bi tráng dấu ghi
Một trường
oanh liệt phù trì
Nên câu
”thiên trụ địa duy” vững vàng
Dòng hơi
chính lang thang tản mạn
Lạc xa đàng
tao loạn sói mòn
Dửng dưng
thời cuộc nước non
Chia năm sẻ
bảy héo hon dường nào
Vòng phú quý
lao xao nhầy nhụa
Cảnh triều
đình nhớp nhúa gian thần
Sớm tôi, tối
chúa vô luân
Mua quan bán
tước bất nhân lộng quyền
Quỳ mọp lạy
hoàng thiên thánh thượng
Mưa móc xin
ban thưởng tước vương
Chúa Liêu
kiêu ngạo khinh thường
Lê dân bách
tính thê lương hãi hùng
*Nguyên tác
thơ lục bát: Ngư Tiều Y Thuật Vấn Đáp
8.5.2020 Lu Hà
Y Đức Hai Họ
Mộng Bào
cảm xúc thơ
Nguyễn Đình Chiểu bài 65
Dân bị ép
tận cùng dầu mỡ
Khô xác ve
nức nở đọa đày
Mưa dầm nắng
dãi lắt lay
Tan đàn sẻ
nghé đắng cay nỗi niềm
Giặc Khiết
Đan gọng kiềm xích sắt
Sưu thuế cao
xiết chặt đôi vai
Bầy đàn xu
nịnh lâu đài
Tai ương reo
rắt trong ngoài lấn chen
Gió đồng
nội bao phen cỏ lác
Vong quốc nô
ngơ ngác đất trời
Ngựa xe đao
kiếm muôn nơi
Đất đai
giành giật tả tơi xác người
Khí hôn quân
chơi vơi quang nhạc
Sấm mùa đông
hạ lạc tuyết bay
Năm giềng ba
mối heo may
Sống thừa Y
Phó loay hoay cuốc bờ
Ta là kẻ bơ
vơ xứ sở
Phải cúi đầu
tôi tớ người ta
Còn đâu lãnh
thổ sơn hà
Vợ con thất
lạc cửa nhà nát tan
Chịu cơ cầu
bần hàn sớm tối
Cứu dân
nghèo lặn lội đó đây
Mặn mòi như
bát nước đầy
Nỗi lòng ai
oán canh chầy thở than
Phận lương
y chứa chan tình nghĩa
Dân tộc mình
thấm thía tử sinh
Trí quân hai
chữ điêu linh
Trạch dân
đau đớn thân hình dở dang
Suốt năm
canh mơ màng thổn thức
Giọt lệ rơi
nao nức sóng dồi
Tự do đôi
cánh bồi hồi
Lồng son cũi
sắt phận tôi chúa người
Thà đui mù
thảnh thơi cất bước
Dù kẻ thù
bạo ngược nhiễu nhương
Còn đâu trật
tự kỷ cương
Bàng môn tả
đạo bất lương hoành hành
Chẳng thấy
cảnh dân lành tang tóc
Giặc xâm
lăng cướp bóc thẳng tay
Thái y nô bộc
hàng ngày
Tham chi chức
ấy đọa đày não thân
Quyết giữ
trọn tinh thần thể xác
Sống làm chi
nhận giặc làm cha
Bán hồn cho
quỷ ác ma
Mù lòa trọn
nghĩa ông cha đạo nhà
Danh tiếng
giữ thiên hà sông núi
Chẳng hổ
lòng luồn cúi ngoại xâm
Cha con cốt
nhục tình thâm
Còn hơn sáng
mắt nhẫn tâm lạc loài
Sáng đôi mắt
tham tài đắm sắc
Thói a dua ngơ
ngác hàng thần
Quan nha cầu
cạnh hại dân
Vào ra luồn
cúi Nữ Chân cáo chồn
*Nguyên tác
thơ lục bát: Ngư Tiều Y Thuật Vấn Đáp
9.5.2020 Lu Hà
Y Đức Hai Họ
Mộng Bào
cảm xúc thơ
Nguyễn Đình Chiểu bài 66
Lũ ươn hèn
luồn trôn cẩu tặc
Sống làm chi
reo rắc thị phi
Bon chen nhân
nghĩa bỏ đi
Thảo ngay
chẳng biết tôn ti khinh thường
Trái thiên
luân bất lương vô đạo
Bầy hắc nô
điên đảo thế nhân
Ta đây giữ
trọn tinh thần
Thà cùng tạo
hóa phong trần hư vô
Gọi Đạo
Dẫn dặn dò sau trước
Nối nghiệp
thày cốt được lòng dân
Anh em non nước
xa gần
Lương y từ
mẫu cứu nhân độ người
Phận ta già
thảnh thơi ngày tháng
Chẳng bận
lòng cay đắng xót xa
Lánh xa thế
tục quan hà
Lần hồi sớm
tối bóng tà tịch dương
Ngư, Tiều
hỏi Thanh Phong Minh Nguyệt
Rằng hai ông
chẳng biết làm sao
Khoanh tay giọt
lệ ứa trào
Ý thày đã
quyết nghẹn ngào triết nhân
Thày chẳng
những bảo thân giữ đạo
Lại khen
người chu đáo vẹn toàn
Y lời thánh
đức hiền nhân
Nước an kẻ
trí, loạn thần giả ngu
Xưa cũng lắm
đui mù câm điếc
Gỉa ốm đau
chẳng tiếc thân mình
Lánh xa bổng
lộc triều đình
Hôn quân vô
đạo dân tình lầm than
Nay phải buổi
gian nan xã tắc
Hoa mão di lầm
lạc phai mầu
Nắng mưa cây
cỏ dãi dầu
Xuân Thu giữ
phép mái đầu bạc phơ
Sống chẳng
để nhuốc nhơ tiên tổ
Chớ coi
thường ngồi đó đui rồi
Hôn quân đạo
tặc mấy hồi
Trời con hơi
chính gửi đôi mắt thầy
Đợi thúc
quý tan mây quang đãng
Sông sẽ
trong biển lặng bao la
Mắt thày tức
khắc sáng ra
Thanh Phong
Minh Nguyệt thiết tha tặng người
Thuở tinh
chiên cảnh đời tao loạn
Truyện trăm
nhà đại nạn tha phương
Mấy ai trọn
dấu thư hương
Tròng đôi
mắt thịt tấm gương đạo nhà
Tần đế
nhường danh gia họ Lỗ
Hán vương
đâu biết rõ thầy Trương
Thôi đành ẩn
dật tìm đường
Kiền khôn
một túi bốn phương cậy nhờ
Thấy hai lão
làm thơ đường luật
Tỏ lòng
thành chân thật xiết bao
Nhân Sư đáng
bậc nho hào
Ngư Tiều
ngưỡng mộ dạt dào mưa sa
*Nguyên tác
thơ lục bát: Ngư Tiều Y Thuật Vấn Đáp
10.5.2020 Lu Hà
Y Đức Hai Họ
Mộng Bào
cảm xúc thơ
Nguyễn Đình Chiểu bài 67
Rung hạt lệ
xót xa cây cỏ
Trời đất
sầu kim cổ khóc than
Kính thày Sư
Miện đằng vân
Chiếu, thềm
chớp giật thánh nhân cảm lòng
Sách Bân
phong Chu công chỉ bảo
Dạy kẻ mù
theo đạo Thành vương
Xôn xao đệ
tử bốn phương
Trăm vua công
dụng vào đường Nhạc sư
Bởi “đạo
tâm” chân như hai chữ
Thầy đui mù
lặng giữ lỗi chi
Thánh hiền
nể trọng kiêng vì
Mặc bầy ngu
xuẩn khinh khi chê cười
Tiều muốn
đến tận nơi thăm hỏi
Việc trăm
năm làn khói âm hao
Việc đời
oan ức mãi sao?
Nuôi mầm hy
vọng nghẹn ngào cơ duyên
Chuyện nước
nhà căn nguyên nguồn gốc
Nỗi niềm
đau tang tóc triền miên
Chẳng hay
chính sự U, Yên
Hai ông thấu
hiểu thần tiên ý trời
Bất khả lậu
hỏi người đâu dễ
Máy thiên cơ
chẳng để lộ ra
Hai thày đã
chỉ dạy ta
Một bài thơ
sấm thiết tha năm vần:
“Năm quý
đua cờ pháo ngựa qua
Hai vua một
gánh gửi vai bà
Trời nam có
thẻ cây sơn cắm
Đất bắc
còn vàng cốt đính pha
Con thú một
sừng binh mới gặp
Cái người
một mắt đá chưa ra
Bao giờ nhật
nguyệt vầy gương sáng
Bốn biển âu
ca hợp một nhà”
Đạo Dẫn
đọc sâu xa ý nghĩa
Giải từng
câu thấm thía lẽ trời
Thịnh suy
phần cũng do người
Đến đâu
biết vậy sự đời hỏi chi?
Ngư vái tạ
thầm thì tai bạn
Hai chúng ta
nông cạn nghĩ suy
Đợi thầy
trở lại Đan Kỳ
Thiên thai
chốn ấy vân vy khó tìm
Cũng biết
vậy cánh chim sơn cước
Nước mênh
mông thần dược lâm y
Thác cao suối
chảy ầm ỳ
Thâm sâu cùng
cốc tà huy cuối trời
Đạo Dẫn
mới mỉm cười kín đáo
Thầy trao tay
chỉ bảo hai thiên
Một pho Tiêu
bản luận biên
Hai là Tạp
trị phú truyền cho ta
Thày còn viết
lời ca để lại
Cả hai ngươi
lo ngại làm chi
Gắng công
đạo hạnh tu trì
Tinh thông y
thuật việc gì chẳng nên.
*Nguyên tác
thơ lục bát: Ngư Tiều Y Thuật Vấn Đáp
11.5.2020 Lu Hà
Y Đức Hai Họ
Mộng Bào
cảm xúc thơ
Nguyễn Đình Chiểu bài 68
Thuốc đặc
trị dĩ nhiên ngọn gốc
Thân bệnh
bàn âm thuộc ngọn dương
Gốc âm năm
tạng lẽ thường
Còn dương
sáu phủ khí đương mịt mờ
Gốc mắc
trước xác xơ phần ngọn
Trị ngọn
thì tà loạn bệnh tăng
Thuốc hay
ngấm gốc sẵn sàng
Sợ chi biến
chứng bệnh càng đẩy lui
Nghề thày
thuốc cũng vui lắm chứ
Mở vòng tay
chan chứa nhân sinh
Rộng đường
thông hiểu nội kinh
Chẳng nên
chấp nhất u minh hiếu kỳ
Đừng hấp
tấp cầu y bất đạt
Thuốc năm
mùi chứa chất âm dương
Rõ ràng lỗi
thứ lập phương
Ví như viên
tướng chiến trường dụng binh
Không kỷ
luật trao mình cho giặc
Từ ngày xưa
lầm lạc lỗi chi
Còn đâu nam
tử tu mi
Y Lâm một
một lũ „bất khi“ cũng đành
Học rồi
phải có hành mới được
Lệnh tôn
nghiêm sau trước sắt đanh
Khí thời
chẳng trọn mong manh
Lừng khừng
nhút nhát thanh danh sói mòn
Thánh y dạy
vuông tròn là chỗ
Biết bao điều
chăng chớ có không?
Xem ra đọc
sách buông tuồng
Chữ y chữ ý
chẳng đồng thuận nhau
Luôn bình
trắc trước sau lẫn lộn
Ý tưởng y
hỗn độn chấp phương
Gốc tìm lối
ấy dọn đường
Giảm, gia,
khử, thủ kinh tường trở ra
Hợp, xuyên,
trích tùy ta vận dụng
Đạo Dẫn
khuyên trị đúng bệnh tình
Ơn dày trông
cậy chúng sinh
Đan Khê cùng
đến đệ trình Sư tôn
Lễ từ quy
Nhập Môn nơi đó
Lạy thầy ta
hai họ Mộng, Đào
Tiều phu ngày
tháng hư hao
Vợ mong nhà
cửa nôn nao cõi lòng
Bởi nghiệp
y chưa thông mọi lẽ
Phải trở về
rành rẽ mới xong
Ngày dài
tháng rộng thong dong
Tới sau thong
thả phục tòng sư huynh
Đường Nhập
Môn hậu sinh khả úy
Nhớ ơn thầy
tận tụy trung thành
Trước sau
mong được an lành
Theo nhau cũ
mới thanh danh sáng ngời
Không có thầy
ta thời học bạn
Tài đức cao
rào cản bước đâu
Sách y lắm
chỗ thâm sâu
Tinh thông kỹ
nghệ dãi dầu công phu.
*Nguyên tác
thơ lục bát: Ngư Tiều Y Thuật Vấn Đáp
12.5.2020 Lu Hà
Y Đức Hai Họ
Mộng Bào
cảm xúc thơ
Nguyễn Đình Chiểu bài 69
Rừng văn
biển học mù sương phủ
Đấng tài
hoa chẳng phụ tấm lòng
Chân nhân
luyện hạt gieo trồng
Tuy ngồi một
chỗ hanh thông đất trời
Nho, y, lý,
đạo đời chăng chớ
Toán, bốc
càng rạng rỡ Thái san
Thầy xem khí
tượng thiên văn
Lời ngay cặn
kẽ chứa chan mấy hồi
Hàng chục
pho trau dồi kiến thức
Sách Đan Khê
y học vẹn tuyền
Có câu “y
bát chân truyền“
Anh em kết
nghĩa đào viên kém gì?
Lời thầy
dạy khắc ghi lòng dạ
Ngư, tiều
đành từ dã ra về
Nhập Môn đưa
khỏi Liễu Khê
Tình huynh
nghĩa đệ dãi dề chia ly
Thác nước
chảy ầm ỳ vội vã
Nắng ban mai
vách đá bồn chồn
Ngư, Tiều
quẩy gánh đi luôn
Ngoảnh đi
than thở lệ tuôn đôi dòng
Búa rìu mục
long đong ngày tháng
Tấm lưới
sờn cay đắng xót xa
Quan san muôn
dặm sơn hà
Non xanh nước
biếc bao la đất trời
Nào ai hay nửa
đời đổi bước
Bỏ rừng
xanh sông nước theo nghề
Y khoa nay đã
nguyện thề
Cứu nhân độ
thế đồng quê thị thành
Bậc đại
phu xứng danh nho sĩ
Trọn hai
trăng kiên nghị dẻo dai
Ngày thương
tháng nhớ u hoài
Xa nhà nặng
gánh đôi vai nhọc nhằn
Biết bao
nhiêu gian nan vất vả
Đặng gắng
mình mài đá thành kim
Tiểu nhi khỏi
mất công tìm
Lương y từ
thiện trái tim mẹ hiền
Ngày mai nhé
dời thuyền ngư phủ
Gánh hành
trang đầy đủ kim châm
Xọt đeo hái
thuốc âm thầm
Quẳng dìu xó
bếp thành tâm cứu người
Cả hai ngã
nói cười rôm rả
Nửa ngày đi
bóng ngả quang âm
Mừng thay ra
khỏi Y lâm
Bỗng đâu
chớp giật ầm ầm sấm vang
Mây đen tới
vội vàng tìm chỗ
Gió mưa phun
đây đó rậm rì
Nát nhàu cây
cỏ đường đi
Vắng tanh dấu
thỏ chim di lạc đàn
Nhìn ngơ ngác
ngút ngàn sơn cước
Vái lâm quân
chỉ bước chân đi
Thấy ngay
hang đá tức thì
Dây leo chằng
chịt đầm đìa hạt mưa.
*Nguyên tác
thơ lục bát: Ngư Tiều Y Thuật Vấn Đáp
12.5.2020 Lu Hà
Y Đức Hai Họ
Mộng Bào
cảm xúc thơ
Nguyễn Đình Chiểu bài 70
Thật khéo
thay cũng vừa đủ chỗ
Hai chàng bèn
lọ mọ chui vào
Giở ngay cơm
nắm khi nào
Nhập Môn gói
sẵn nghẹn ngào sư huynh
Đi mùa xuân
nắng tình hoa bướm
Mùa hạ về
mưa đợm cỏ cây
Ve sầu rả
ríc vui vầy
Cuốc kêu tu
hú vượn bầy râm ran
Gió hiu hắt
bạt ngàn mai trúc
Lòng xốn
xang thúc giục đôi chân
Thình lình
trống đánh rất gần
Giật mình há
hốc quan quân tiến vào
Cúi lom khom
chào rào lấp ló
Đuốc sáng
chưng rõ tỏ mặt người
Cờ vuông lỗ
bộ đứng coi
Cánh chuồn
nghiêng ngó xăm soi lạ lùng
Một quan lớn
ung dung chễm trệ
Kiệu lọng
vàng thị vệ xếp hàng
Giáo gươm
hùng hổ nghênh ngang
Ngư Tiều
khép nép ngỡ ngàng bước ra
Có năm ngã
kêu la thảm thiết
Cổ đeo gông
dây xiết cổ tay
Oan khiên chen
chúc một bầy
Công đường
thảm thiết đơn đầy một mâm
Quân áp giải
ầm ầm sát khí
Hương án
xông chuẩn bị đăng đàn
Trước sân
kìm, kẹp, roi, giàn
Lệnh truyền
sĩ tốt phạm nhân bắt quỳ
Trống nổi
lên quân uy soi mói
Lão Đậu kia
bị trói dẫn vào
Hỏi làm thày
thuốc khi nào?
Đậu khoa
phương pháp âm hao tỏ tường
Chữa trị
bậy bất thường táo tợn
Chết nhiều
người gốc ngọn cung khai
Đậu rằng
vốn chẳng học ai
Nhờ cha thuốc
trái mấy bài để cho
Ba ngày trái
phì phò mới phát
Dùng thang
thanh lường gạt mát rồi
Sáu ngày trái
mọc than ôi
Thần công
tán hốt cố bồi cho xong
Bệnh thành
nặng chẳng mong chữa khỏi
Nghề lang băm
lại giỏi mánh mung
Chín ngày
trái chẳng quán nung
Tranh nhau cố
hốt lộc nhung thang thầy
Mười hai
ngày đóng dày mưng mủ
Nội thiên
kim thác ủ bệnh ngay
Thật ra chẳng
rõ thang này
Phép cha thanh
biểu độc quay quắt hoài
Quá kỳ trái
dằng dai nóng sốt
Phép cha
truyền cứ hốt thang bừa
Dửng dưng
kinh sách xa xưa
Đậu sang mấy
bữa hay chưa bất kỳ
*Nguyên tác
thơ lục bát: Ngư Tiều Y Thuật Vấn Đáp
13.5.2020 Lu Hà
Keine Kommentare:
Kommentar veröffentlichen